Mối quan hệ của Nghị định thư Kyoto với Khuôn khổ Liên hợp quốc

Ngày 16 tháng 2 năm 2020 đánh dấu 15 năm kể từ khi Nghị định thư Kyoto về biến đổi khí hậu chính thức có hiệu lực. Năm 2020 cũng là năm văn kiện này sẽ hết hiệu lực, Hiệp định Paris về biến đổi khí hậu chính thức thay thế Nghị định thư Kyoto với hy vọng có thể làm cơ sở cho những nỗ lực chống biến đổi khí hậu mạnh mẽ và hiệu quả. chất lượng hơn

Quảng cáo
Mối quan hệ của Nghị định thư Kyoto với Khuôn khổ Liên hợp quốc

Khí thải bốc lên từ một nhà máy ở Saint-Avold, miền Đông nước Pháp ngày 31/10/2018 (Ảnh tư liệu: AFP / TTXVN)

Nghị định thư Kyoto, được thông qua tại hội nghị lần thứ ba của các Bên tham gia Công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu (COP-3) vào tháng 12 năm 1997 tại Kyoto (Nhật Bản) và chính thức có hiệu lực. lực lượng ngày 16/02/2005.

Vào thời điểm ra đời, Nghị định thư Kyoto được coi là một bước ngoặt lịch sử bởi đây là thỏa thuận toàn cầu đầu tiên về giảm phát thải khí nhà kính do các hoạt động của con người gây ra và đây cũng là kết quả lần đầu tiên kể từ khi các nước ký kết Liên hợp quốc. Công ước khung về biến đổi khí hậu (UNFCCC) tại Hội nghị thượng đỉnh Trái đất, tổ chức ở Brazil năm 1992.

Điều đáng chú ý là Nghị định thư Kyoto ra đời chỉ 2 năm sau cuộc họp đầu tiên của các bên tham gia UNFCCC tổ chức tại Berlin (Đức) năm 1995 (COP-1), cho thấy các nước nhận thức được tính cấp thiết của vấn đề chống khí hậu thay đổi.

Trên thực tế, kể từ khi Nghị định thư Kyoto được đàm phán, mực nước biển đã tăng trung bình hơn 6cm, và số lượng thảm họa khí hậu trên toàn cầu đã tăng 42%.

Đây là văn kiện đánh dấu lần đầu tiên các quốc gia trên thế giới đưa ra cam kết ràng buộc, hạn chế khí thải để cứu hành tinh, thể hiện nỗ lực và trách nhiệm trong cuộc chiến chống biến đổi khí hậu. Toàn cầu. Tài liệu đặt ra khung thời gian từ năm 2008 đến năm 2012 để các nước công nghiệp phát triển giảm 5,2% lượng khí thải gây hiệu ứng nhà kính so với mức của năm 1990.

Nhưng nhiều vấn đề nảy sinh trong quá trình tồn tại khó khăn của Nghị định thư Kyoto. Các nền kinh tế đang phát triển không phải thực hiện các nghĩa vụ ở Kyoto. Nói cách khác, mặc dù được hơn 150 quốc gia phê chuẩn, các quy định của Nghị định thư Kyoto chỉ được áp dụng cho 35 nước công nghiệp phát triển, và các nước này có 10 năm để chuẩn bị cho nhiệm vụ giảm phát thải. Nhà kính.

Trong suốt thập kỷ đó, nền kinh tế Trung Quốc phát triển nhanh chóng, giải phóng một lượng lớn khí thải gây hiệu ứng nhà kính. Năm 2006, Trung Quốc chính thức vượt Mỹ, trở thành quốc gia phát thải khí nhà kính lớn nhất thế giới. Do đó, Quốc hội Hoa Kỳ đã từ chối phê chuẩn Nghị định thư Kyoto vì cho rằng hiệp định này là không công bằng.

Tháng 3/2001, ngay sau khi nhậm chức, Tổng thống Mỹ lúc bấy giờ là George W. Bush đã tuyên bố rút Mỹ khỏi Nghị định thư Kyoto, với lý do Nghị định thư này sẽ ảnh hưởng đến nền kinh tế Mỹ, dẫn đến giá năng lượng cao hơn và dẫn đến các nước khác lợi dụng hiệp định có hiệu lực thi hành thấp.

Việc Hoa Kỳ, quốc gia công nghiệp phát triển hàng đầu thế giới rút khỏi Nghị định thư Kyoto, đã đặt hiệp định vào tình thế bấp bênh vì nghị định thư sẽ chỉ có hiệu lực khi được các quốc gia chiếm 55% lượng khí thải toàn cầu phê chuẩn. Mãi đến tháng 11 năm 2004, việc Nga phê chuẩn Nghị định thư đã tạo điều kiện để hiệp định này có hiệu lực vào ngày 16 tháng 2 năm 2005.

Tuy nhiên, tiến độ thực hiện Nghị định thư Kyodo không được suôn sẻ. Bất chấp sự gia tăng nhiệt độ toàn cầu kể từ đó, ngoài Mỹ, các cường quốc khác như Trung Quốc, Nhật Bản, New Zealand và Nga cũng từ chối thực hiện giai đoạn hai của Nghị định thư Kyoto (từ 2013-2020). Canada tuyên bố rút khỏi Nghị định thư năm 2011. Và trên thực tế, nhiều nước phát triển từ đó đã phớt lờ các cam kết giảm phát thải khí nhà kính.

Đặc biệt, xung đột giữa các nước giàu và các nước phát triển liên quan đến mục tiêu giảm phát thải cũng gia tăng. Các nước đang phát triển muốn thúc đẩy nền kinh tế của mình và tiếp tục sử dụng các nguồn năng lượng truyền thống giá rẻ nhưng gây ô nhiễm, cho rằng các nước công nghiệp tiên tiến đã thải ra rất nhiều khí thải gây hiệu ứng nhà kính từ hàng trăm năm nay, bên phải chịu trách nhiệm về biến đổi khí hậu, cụ thể là , những quốc gia này phải chi tiền để cứu lấy khí hậu Trái đất.

Trong khi đó, các nước giàu vẫn lo ngại về nguy cơ suy yếu kinh tế, và chỉ trích Nghị định thư Kyoto đã bỏ qua một số quốc gia là quốc gia phát thải khí thải lớn nhất thế giới.

Đó cũng là lý do khiến các hội nghị từ COP-11 năm 2005, khi Nghị định thư Kyoto có hiệu lực và các nước bắt đầu thảo luận về việc gia hạn hiệp định này sau năm 2012, sang COP-17 năm 2011, đều không thu được kết quả như mong muốn. đỉnh điểm là COP-15 tại Copenhagen (Đan Mạch) năm 2009, các nước đã không thể đồng ý gia hạn cho hiệp định này.

Mối quan hệ của Nghị định thư Kyoto với Khuôn khổ Liên hợp quốc

Người biểu tình kêu gọi ban bố tình trạng khẩn cấp về khí hậu bên ngoài Văn phòng Thủ tướng Đức ở Berlin ngày 11/6/2019 (Ảnh: AFP / TTXVN)

Ngay trước khi Nghị định thư Kyodo hết hiệu lực vào ngày 31/12/2012, tại COP-18 ở Doha (Qatar), các nước đã nhất trí gia hạn thỏa thuận đến năm 2020. Tuy nhiên, ngay cả Văn kiện sửa đổi Doha. Năm 2012 quy định thời hạn cam kết thứ hai của Nghị định thư Kyoto từ 2013 đến 2020, nhưng vẫn chưa có hiệu lực do không đủ số lượng thành viên phê chuẩn.

Trong quá trình đó, nhiệm vụ của các nước là tìm ra thỏa thuận thay thế Nghị định thư Kyoto. Năm 2015, tại COP-21 ở Paris (Pháp), cả hai nhà lãnh đạo thế giới đã nhất trí phê chuẩn Thỏa thuận Paris về biến đổi khí hậu thay thế Nghị định thư Kyoto hết hiệu lực vào năm 2020.

Sự tồn tại gian khổ của Nghị định thư Kyoto khiến văn kiện này được coi là một “thỏa thuận trên giấy”. Thực tế này cho thấy khoảng cách từ quyết tâm đến hành động còn khá dài và trở ngại chính luôn là vấn đề lợi ích.

Nhiều hội nghị COP diễn ra trong bầu không khí căng thẳng khi các quốc gia quyết liệt bảo vệ lợi ích của chính mình và đây luôn là nguyên nhân khiến các bên không đạt được tiếng nói chung về vấn đề cắt giảm khí thải. . Ngay cả những hội nghị đạt được thỏa thuận, điển hình là COP-3 với Nghị định thư Kyodo và COP-21 với Thỏa thuận Paris, việc triển khai các thỏa thuận này thực sự khó khăn.
Điều đó khiến cộng đồng quốc tế lo ngại Thỏa thuận Paris có thể lặp lại số phận của Nghị định thư Kyoto, cả hai văn kiện đều được coi là đánh dấu bước ngoặt lịch sử trong cuộc chiến chống biến đổi khí hậu để tìm ra giải pháp. Nhìn chung, việc hạn chế phát thải khí nhà kính rất khó khăn và đầy thách thức.

Một vấn đề lớn là ngay sau khi nhậm chức, Tổng thống Mỹ Donald Trump đã tuyên bố rút Mỹ khỏi Hiệp định Paris và đến tháng 11 vừa qua, Washington mới chính thức bắt đầu quá trình rút khỏi hiệp định này. Một lần nữa, sự vắng mặt của Mỹ đặt ra câu hỏi về giá trị và sự tồn tại của một văn kiện quốc tế về biến đổi khí hậu.

Mối quan hệ của Nghị định thư Kyoto với Khuôn khổ Liên hợp quốc

Ngày 4/11/2019, chính quyền Tổng thống Donald Trump bắt đầu quá trình chính thức rút khỏi Thỏa thuận Paris về biến đổi khí hậu, đưa Mỹ trở thành quốc gia đầu tiên rời khỏi thỏa thuận toàn cầu này. Ảnh (tư liệu): Khí thải bốc lên từ ống khói tại nhà máy điện ở Castle Dale, bang Utah, Mỹ, ngày 8/10/2017. (Ảnh: AFP / TTXVN)

Trong khi đó, vẫn còn nhiều vướng mắc liên quan đến Hiệp định Paris chưa được giải quyết. Cho đến COP-25 tại Madrid (Tây Ban Nha) vào tháng 12 năm 2019 vừa qua, thế giới vẫn chưa đạt được tiến bộ đáng kể nào để thỏa thuận này có thể được thực thi từ năm 2021. Các nước tham gia đã không giải quyết được vấn đề. về các vấn đề chính, bao gồm việc thiết lập các quy tắc để giao dịch hạn ngạch phát thải carbon và giúp các nước đang phát triển thanh toán các thiệt hại do biến đổi khí hậu.

Tuy nhiên, công bằng mà nói, trong khi đó, Liên minh châu Âu (EU) – một trong những bên thực hiện các cam kết ràng buộc về mặt pháp lý kể từ thời điểm Nghị định thư Kyoto – mới đây đã có một bước tiến đáng kể khi công bố Hiệp định. Công ước Xanh, nhằm mục đích giảm 40% lượng khí thải CO2 vào năm 2030 so với mức của năm 1990 và trung hòa với lượng carbon vào năm 2050 (tức là lượng carbon thải ra từ con người và các hoạt động của con người). cân bằng với lượng khí thải này bằng các bồn cacbon tự nhiên hoặc nhân tạo). Tuy nhiên, Thỏa thuận xanh của EU đang gặp khó khăn về tài chính dù Nghị viện châu Âu (EP) đã thông qua nghị quyết tuyên bố tình trạng khẩn cấp về khí hậu.

Năm 2019, thế giới chứng kiến ​​những tác động khủng khiếp của sự nóng lên toàn cầu rõ ràng hơn bao giờ hết: những đợt nắng nóng bất thường ở châu Âu, cháy rừng chưa từng có xảy ra khắp nơi từ Nam Mỹ đến Australia, lũ lụt lịch sử ở Sri Lanka hay Cộng hòa Dân chủ Congo, tuyết rơi nghiêm trọng, bão trái mùa tại Hoa Kỳ…

Trong khi đó, các nhà khoa học cảnh báo rằng mục tiêu giảm phát thải của nhiều quốc gia không đủ để ngăn nhiệt độ trái đất tăng trên 2 độ C. Theo một báo cáo của các nhà khoa học United In Science, nhiệt độ toàn cầu Nhu cầu sẽ tăng 2,9 đến 3,4 độ vào năm 2100, bất chấp những nỗ lực giảm phát thải khí nhà kính.

Nguy cơ hệ thống khí hậu Trái đất bị đẩy vào thảm cảnh trở thành “hành tinh nóng không thể ở được” là có thật. Biến đổi khí hậu ngày càng trở thành thách thức lớn nhất đối với hòa bình và an ninh thế giới, hơn cả khủng bố.

Thế giới không còn nhiều thời gian nữa. “Quả bom” khí hậu sắp phát nổ, và không có “Hành tinh B” nào dành cho chúng ta. Trái đất cần một quyết tâm mạnh mẽ tại COP-26 ở Glasgow (Scotland) vào năm 2021, nơi những vấn đề khó khăn nhất sẽ được đưa ra bàn thảo. Những thăng trầm của Nghị định thư Kyoto không thể kết thúc bằng con số không.

Nguồn:

Bạn đang xem chuyên mục Hỏi đáp
Thuộc website web giải đáp

Quảng cáo
Hỏi đáp

Leave a Reply

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

You may use these HTML tags and attributes:

<a href="" title=""> <abbr title=""> <acronym title=""> <b> <blockquote cite=""> <cite> <code> <del datetime=""> <em> <i> <q cite=""> <s> <strike> <strong>